Muốn cầu tiến hơn người, ra đời phải biết ngước mặt nhìn lên. Vì nhìn xuống ta thấy hơn người, nhưng nhìn lên ta chỉ là con số không vĩ đại

Francois Mauriac

Khẩu hiệu dẫn đến thành công là :” áp dụng – thích nghi – Cải tiến”

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008

Đặng Lê Nguyên Vũ - công ty cà phê Trung Nguyên

Chứng kiến cảnh cha bị bệnh nặng, chỉ cần 2 triệu đồng chữa trị mà vay mượn cả đại gia đình cũng không đủ, cậu con trai 16 tuổi - Đặng Lê Nguyên Vũ đã thề với lòng: “Một ngày nào đó mình sẽ thay đổi cuộc sống của cả đại gia đình này!”.


Những năm 1990, thầy cô và các sinh viên Trường Đại học Tây Nguyên không ai không biết đến Đặng Lê Nguyên Vũ, chàng sinh viên khoa Y với nhiều ước mơ và hoài bão vượt ra phạm vi đất nước. Nhận ra ngành Y không thể đáp ứng được ước mơ và tham vọng của mình, năm thứ ba đại học, anh quyết định nghỉ học và đón xe vào thành phố Hồ Chí Minh để tìm kiếm cơ hội. Ra đi với hành trang duy nhất là tên và địa chỉ của một người chú chưa từng biết mặt, anh tự hứa sẽ không trở về nhà cho đến khi sự nghiệp vững vàng.

Nhận được nhiều lời khuyên chân thành và bổ ích từ người chú, Đặng Lê Nguyên Vũ đồng ý trở lại trường vài ngày sau đó. Tuy vậy, trong anh vẫn luôn nung nấu ý tưởng kinh doanh. Là nước xuất khẩu cà phê thứ 2 thế giới nhưng hình ảnh cà phê của Việt Nam không hề được biết đến. Cà phê Buôn Ma Thuột là một trong những loại ngon nhất thế giới nhưng thực tế có được công nhận? Nhận thức như vậy, Đặng Lê Nguyên Vũ quyết định nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi. Anh muốn chế biến ra loại cà phê ngon nhất và xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Tham vọng lớn lao ấy thôi thúc chàng sinh viên Y đến cháy bỏng. Trình bày suy nghĩ với bạn bè để tìm sự chia sẻ, nhưng anh chỉ nhận được sự giễu cợt và cho là “thằng điên hạng nặng” với những ý tưởng vượt xa tầm với. Cả trường đại học chỉ vài ba người là chịu nói chuyện với anh.

Tuy nhiên, Đặng Lê Nguyên Vũ vẫn tìm được ba người cộng sự học cùng lớp có chung bầu nhiệt huyết, nhưng họ hứa chỉ giúp anh trong chặng khởi đầu chứ không theo con đường kinh doanh đó. Không ngần ngại, Đặng Lê Nguyên Vũ bắt tay thực hiện ý tưởng của mình. Anh cùng các bạn tranh thủ ngày chủ nhật, lặn lội tìm đến các thương gia cà phê nổi tiếng ở khắp các tỉnh thành năn nỉ, thuyết phục họ truyền nghề. Cứ vậy, anh tích lũy được vốn kiến thức sâu rộng về cà phê.

Những khó khăn thử thách

“Gã hoang tưởng” Đặng Lê Nguyên Vũ mà nhiều người đã gọi anh 4 năm về trước giờ đã là một doanh nhân trên trương trường với vị thế rất nhiều người mơ ước. Ước mơ cải thiện cuộc sống cho cả đại gia đình của cậu học sinh ngày xưa giờ đã thành hiện thực. Hoài bão lớn lao, vượt xa tầm vi mô của anh năm xưa cũng bắt đầu được thực hiện, đó chính là ước mơ được bay khắp thế giới, bay trên bầu trời và “bay” trong cả thương giới.

Năm 2002, nhận thấy đã đến lúc Trung Nguyên phải ra khỏi Việt Nam, bên cạnh việc tìm kiếm thị trường, Đặng Lê Nguyên Vũ đầu tư 3 triệu USD để hoàn chỉnh hệ thống bảng hiệu, khẳng định giá trị của thương hiệu bằng cách thuê luôn một hãng tư vấn đặt tại New Zealand, đồng thời để hoạt động kinh doanh nhượng quyền được chuyên nghiệp, nhất quán hơn và đảm bảo tính đồng nhất của thương hiệu. Trong năm 2002, quán Cà phê Trung Nguyên đầu tiên xuất hiện ở Tokyo. “Đây là một bước rất quan trọng. Nếu chúng tôi thành công ở Tokyo thì điều đó sẽ làm tăng tốc kế hoạch bành trướng của Trung Nguyên ra nước ngoài”.

Trên thực tế, bên cạnh những khó khăn về mặt bằng, tài chính, hình ảnh thì khó khăn lớn nhất mà Đặng Lê Nguyên Vũ phải đương đầu là Goliath cà phê Starbucks, một tập đoàn cà phê lớn nhất thế giới của Mỹ. Sự thành công của Trung Nguyên ở thị trường nội địa cũng giống như Starbucks ở Mỹ, ngoại trừ việc Trung Nguyên thống trị thị trường nội địa của mình chỉ trong 4 năm, trong khi Starbucks phải mất đến 15 năm. Tại Nhật, Starbucks đã có đến gần 400 cửa hàng trong tổng số hơn 6000 cửa hàng của nó trên khắp thế giới. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là đại lý nhượng quyền Trung Nguyên tại Nhật Bản lại ấn định giá mỗi tách cà phê Trung Nguyên cao hơn 50% so với Starbucks và cao hơn 25% so với các cà phê nội địa khác.

“Chúng tôi coi Tập đoàn Starbucks là một đối thủ đầy tiềm năng, nhưng chúng tôi không sợ phải đối mặt với họ. Chúng tôi tập trung làm cho Trung Nguyên trở thành một điển hình của Việt Nam trên thế giới, phản ánh được nền văn hóa của đất nước qua cách thiết kế và cung cách phục vụ” - anh nói.

Con đường dẫn tới thành công

Thành công của Trung Nguyên ở Nhật Bản đã thực sự giúp nó nhảy vọt. Đến nay, thương hiệu Trung Nguyên đã có mặt ở Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc và Cộng hòa Séc. Cà phê rang Trung Nguyên cũng có mặt trong siêu thị và các cửa tiệm ở Mỹ, Đức, Đông Âu, Pháp và Nga. Hiện Đặng Lê Nguyên Vũ đang triển khai các hợp đồng nhằm tìm kiếm thị phần cho Cà phê Trung Nguyên tại 15 nước như Đức, Úc, Canada, Đài Loan, Malaysia, Philippin…

Không chỉ tấn công thị trường quốc tế với mặt hàng cà phê rang, Đặng Lê Nguyên Vũ thực sự gây kinh ngạc cho các nhà doanh nghiệp khi anh cho tung ra sản phẩm cà phê hòa tan mang tên G7 vào tháng 11-2003 vừa qua. Tên gọi cà phê hòa tan G7 trong ý tưởng của anh là một cái tên dễ tiếp cận quốc tế nhưng không mang tính vọng ngoại mà mang sứ mạng chinh phục, chiếm lĩnh thị trường 7 nước phát triển. G7 chính thức đối đầu với các đại gia nước ngoài về cà phê hòa tan bằng “Ngày hội cà phê hòa tan G7” tại Dinh Thống Nhất. Cuộc thử sản phẩm đem đến kết quả khá thú vị: 89% người tham gia chọn cà phê hòa tan G7 là sản phẩm yêu thích, và chỉ có 11% chọn nhãn hiệu cà phê hòa tan Nescafe. Đây thật sự là một cuộc chiến, nhưng điều quan trọng hơn của Trung Nguyên không phải là kết quả cuộc thử mà là sự khơi dậy về ý chí quật cường, về lòng tự hào dân tộc khi chọn lựa và tiêu dùng sản phẩm thương hiệu Việt. “Tại sao lại không thắng những kẻ mạnh hơn ngay trên quê hương mình?”. Mục tiêu của anh là không chỉ chiếm lĩnh thị phần mà còn đánh bại các “đại gia” nước ngoài tại Việt Nam trước khi ra thế giới.

Quả thực chỉ mới ra mắt hơn 8 tháng nhưng sản phẩm G7 đã gây rất nhiều khó khăn cho các đối thủ. Giấc mơ theo đuổi toàn cầu của Đặng Lê Nguyên Vũ chỉ mới đang ở những bước đầu. “Tôi muốn có thương hiệu Trung Nguyên của Việt Nam nổi tiếng trên thế giới. Cà phê của chúng tôi ngon. Không có lý do gì chúng tôi không thể làm được điều đó” - thương gia trẻ này tuyên bố.

Kinh nghiệm kinh doanh

Đi nhiều, thấy nhiều mọi điều trên thế giới, Đặng Lê Nguyên Vũ cảm thấy tủi nhục trước cảnh hàng hóa Việt Nam bị coi thường. Nói đến Toyota, Sony, Hitachi người ta nghĩ ngay đến nước Nhật; nói IBM, Intel, Ford là biết Mỹ; Mercedes là nói đến Đức… Hình ảnh thương hiệu hàng hóa từ lúc nào đã trở thành hình ảnh đối thoại của một quốc gia. Không có thương hiệu, làm sao Việt Nam có thể hội nhập và đối thoại với thế giới? Vì vậy, anh quyết tâm đi tiên phong, xây dựng thành công thương hiệu Trung Nguyên trên trường quốc tế.

Việt Nam có rất nhiều mặt hàng được thế giới ưa chuộng, nhưng tại sao không có sản phẩm nào có thương hiệu? Đặng Lê Nguyên Vũ thấy nếu cứ cảnh “hồ tiêu trộn hạt đu đủ” xuất khẩu ra nước ngoài như đã thấy thì Việt Nam sẽ không thể có được hình ảnh tốt với quốc tế. Bởi giá trị cốt lõi của thương hiệu thực ra chính là uy tín. Anh quan niệm, hàng hóa phải là hình ảnh con người, là nét văn hóa của quốc gia chứ không chỉ đơn thuần là hàng hóa để bán.

Ngay từ đầu khi chọn logo cho Trung Nguyên, Đặng Lê Nguyên Vũ đã thể hiện hoài bão của mình: logo mũi tên là hình ảnh cách điệu của nhà rông Tây Nguyên - nơi khơi nguồn của cà phê Trung Nguyên, hình mũi tên hướng thẳng lên trời thể hiện ý chí chinh phục đỉnh cao, khát vọng vươn lên, phát triển vượt bậc. Ba vạch trắng trên logo là hình ảnh cách điệu của lối lên nhà sàn, thể hiện văn hóa của công ty luôn muốn duy trì bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Màu trắng tượng trưng cho sự tinh khiết, là cam kết an toàn vệ sinh thực phẩm. Mỗi vạch trắng tượng trưng cho một yếu tố thiên, địa, nhân… Bảng hiệu của Trung Nguyên với sắc nâu là chính vì đó là màu của đất, của cà phê, của cội nguồn dân tộc. Tất cả đó là thương hiệu Trung Nguyên đậm chất văn hóa truyền thống Việt trên thương trường quốc tế.

Với những ý tưởng đó, anh muốn Trung Nguyên phải là nơi cung cấp những giá trị văn hóa, là môi trường “khơi nguồn sáng tạo”, nơi hướng con người đến những điều tích cực chứ không chỉ là nơi bán cà phê. Xây dựng hình ảnh Trung Nguyên mang đậm nét văn hóa dân tộc, từ ly tách, bàn ghế, màu sắc bảng hiệu đến đồng phục, cung cách phục vụ của nhân viên,… Đặng Lê Nguyên Vũ muốn rằng, khi Trung Nguyên đến quốc gia nào thì người dân bản địa ở đó có được cảm giác như đang nghỉ ngơi từ 10 - 15 phút trong một Việt Nam thu nhỏ, trước khi vào đất nước Việt Nam thật sự.

Đặng Lê Nguyên Vũ quan niệm: “Tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta cần ý thức được giới hạn của cuộc sống để lựa chọn một lối sống. Theo tôi, có hai cách sống: một là sống theo ý mình, sống hưởng thụ; hai là sống có trách nhiệm. Tôi đã chọn cách thứ hai”. Anh là một trong những người đứng ra khởi xướng chương trình “Sáng tạo vì thương hiệu Việt” vào năm 2002, với mục đích kêu gọi doanh nghiệp ý thức xây dựng về thương hiệu Việt, kêu gọi người tiêu dùng ủng hộ chọn lựa hàng hóa Việt. Tiếp đến năm 2003, anh lại phát động chương trình “Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam”. Nếu như chương trình trên là bước khởi đầu đánh động vào ý thức tiêu dùng hàng hóa Việt, thì chương trình tiếp theo là một bước cụ thể hơn về thương hiệu cho ngành nông sản vốn là thế mạnh của Việt Nam.

Với các loại nông sản tiềm năng như gạo, hồ tiêu, cà phê, hạt điều, trái cây… nhưng Việt Nam luôn tồn tại một nghịch lý là càng được mùa thì sản phẩm nông nghiệp càng bị mất giá, người nông dân luôn luẩn quẩn với bài toán về đầu ra cho sản phẩm. Đặng Lê Nguyên Vũ muốn nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm nông sản Việt Nam tự tin vươn ra thị trường thế giới. Theo anh, xây dựng thương hiệu gắn với các địa danh, vị trí địa lý của từng vùng là một cách tốt nhất để vẽ bản đồ nông sản Việt Nam trên thế giới, góp thay đổi bộ mặt kinh tế của nước nhà.

“Nỗi nhục tụt hậu, thua kém không của riêng ai. Hơn nữa, trong thời đại này thì doanh nhân là chiến sĩ thời bình. Tôi muốn mình là một chiến sĩ thực thụ, chiến đấu trên thương trường vì thương hiệu Việt” - Đặng Lê Nguyên Vũ khẳng khái.

Có lẽ chính lý tưởng và ý chí mãnh liệt đó là yếu tố chính đã giúp anh thắng kiện Công ty Rice Field trong vụ tranh chấp quyền bảo hộ thương hiệu Cà phê Trung Nguyên kéo dài hơn 2 năm tại Mỹ. Việc một doanh nghiệp của Việt Nam có thể thắng kiện một công ty lớn của một quốc gia bá chủ về kinh tế là Mỹ ngay trên nước họ là một điều không tưởng! Nhưng Đặng Lê Nguyên Vũ đã buộc cả thế giới phải thay đổi suy nghĩ đó.

Người biết ước mơ

Hiện nay, Đặng Lê Nguyên Vũ không tiếp tục phát triển Trung Nguyên theo chiều rộng mà anh đang đầu tư chiều sâu cho các cơ sở nội địa để hoàn thiện hình ảnh, củng cố công cuộc kinh doanh, bảo vệ nó khỏi những đối thủ cạnh tranh mới. Anh không ngừng điều chỉnh hình ảnh thương hiệu, sản phẩm và cơ cấu tổ chức của Trung Nguyên để thích nghi với những thị trường mới mà anh dự định sẽ thâm nhập, nhưng vẫn giữ được nét văn hóa dân tộc. Anh không chỉ hăng say lao vào công việc vì sự lớn mạnh của Trung Nguyên mà còn vì thương hiệu Việt, vì nhiều vấn đề của ngành nông sản Việt Nam trên trường quốc tế.

“Thế giới đã từng biết đến rượu vang Pháp, cà phê Columbia, sữa tươi Hoa Kỳ… Chúng ta cũng có quyền mơ một giấc mơ rằng cả thế giới phải biết đến cà phê Buôn Ma Thuột, thanh long Bình Thuận, vải thiều Thanh Hà, sầu riêng Cái Mơn… Ở Trung Nguyên, chúng tôi không chỉ tập hợp những người biết bán cà phê hay sản xuất cà phê mà là tập hợp của những con người tâm huyết, biết chia sẻ với cộng đồng, với mong ước tự tin ghi dấu ấn riêng của mình vào sự thay đổi của dân tộc, của đất nước” Đặng Lê Nguyên Vũ nói. Chính sự sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm cộng với một chữ tâm đầy nhiệt huyết đã làm nên thành công cho chúng tôi. Hơn bất kỳ một tập thể, cộng đồng nào, Trung Nguyên khao khát chia sẻ tính sáng tạo với tất cả mọi người.

Đặng Lê Nguyên Vũ bật mí: “Chiến lược phát triển công ty của chúng tôi có 5 bước. Hiện tại chúng tôi đang hoàn thiện bước thứ 2. Bước đầu tiên là hình thành gây dựng thương hiệu, hoàn chỉnh khâu phân phối. Bước thứ hai là đưa chất văn hóa và sự đồng nhất vào sản phẩm, và vì bí mật kinh doanh cho phép tôi không nói, chỉ biết, bước cuối cùng là một Trung Nguyên toàn cầu”.

Anh luôn trăn trở về thế hệ sau mình: “Tôi biết trong cuộc sống vẫn có rất nhiều bạn trẻ mang mặc cảm của sự nghèo khó, của lòng tự ti, nhưng tiền bạc không phải là vốn mà điều quan trọng là phải có những ước mơ lớn lao. Hiện nay, có nhiều bạn trẻ mang trong lòng những ước mơ rất hạn hẹp về những giá trị vật chất mà thiếu đi “chất lửa” của một tuổi trẻ khát khao được cống hiến, được chia sẻ và tâm huyết với những thay đổi lớn lao của dân tộc, của đất nước - đó cũng là một phần lỗi không nhỏ ảnh hưởng của nền giáo dục hiện nay đang làm bào mòn đi tính sáng tạo trong suy nghĩ của họ”.

Với tất cả những gì đã và đang làm được, Đặng Lê Nguyên Vũ đã góp phần tiếp sức để những hạt cà phê thấm đẫm sự nhọc nhằn của người nông dân Việt Nam được chắp cánh xa hơn, chinh phục thị trường thế giới bằng hương vị đậm đà và mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc.

Các giải thưởng đã đạt được

33 tuổi, Đặng Lê Nguyên Vũ đã tạo ra một đế chế cà phê mà danh tiếng của nó vượt ra ngoài biên giới Việt Nam. Anh trở thành thần tượng trong suy nghĩ của giới trẻ với những hoài bão lớn lao, những ý tưởng táo bạo cùng sự thành công thần kỳ của mình. Đại diện cho giới doanh nhân trẻ cả nước, đầu tháng 8 năm nay, Đặng Lê Nguyên Vũ - Tổng Giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên đã sang Brunei nhận giải Nhà Doanh nghiệp trẻ xuất sắc nhất ASEAN năm 2004, giải thưởng do Hiệp hội các nhà Doanh nghiệp trẻ Asean tổ chức 5 năm một lần.

Cùng với Trung Nguyên, anh được đánh giá là một “hiện tượng kinh tế” của Việt Nam cuối thế kỷ 20.

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2008

Lịch sử thuộc về những người biết ước mơ

Khi còn đi học tôi rất nghèo, nhưng tôi không phải là đứa học sinh nghèo duy nhất, lúc ấy ai cũng nghèo. Cách đây 30 năm thu nhập quốc dân tính theo đầu người của Triều Tiên khoảng 50 USD, còn bây giờ đạt khoảng 5000 USD. Bạn có thể tưởng tượng được lúc ấy chúng tôi vất vả như thế nào. Dĩ nhiên ngày nay vẫn có một số người nghèo, như những ngày sau cuộc chiến tranh Triều Tiên mọi người đều nghèo khổ.

Lúc ấy chúng tôi sống ở quận Chungchang, Seoul và tôi phải đi bộ hai tiếng tới trường Đại học Yonsei cách khoảng 10Km. Tôi không có lấy một đồng xu dính túi nhưng tôi lại có nhiều ước mơ. Tôi vẫn không thể quên được cái cảm giác bước ra khỏi thư viện vào lúc đêm khuya hay khi tôi nhìn lên bầu trời khi lê bước về nhà. Dường như thế giới là của tôi và tôi có thể bao trùm vũ trụ trong cánh tay của mình. Đối với tôi dường như không có gì là không thể làm được. Dẫu rằng nghèo, nhưng cái cảm giác ấy giúp tôi tiếp tục học tập. Sinh lực của tuổi thanh niên là rất quan trọng đối với tôi và làm tràn ngập trái tim tôi bằng những ước mơ. Không có gì có thể ngăn cản tôi.

Trong số những điều mà tuổi trẻ mang lại thì ước mơ là điều quan trọng nhất. Những người biết ước mơ thì không biết nghèo khó vì mỗi người đều giàu có như chính ước mơ của mình vậy. Tuổi trẻ ước mơ rộng lớn như trời biển, dẫu bạn không có gì trong tay cả thì cũng không có gì phải ganh tị nếu có được những ước mơ.

Lịch sử thuộc về những người biết ước mơ : Ước mơ là động lực làm thay đổi thế giới. Những người có ước mơ, những xã hội làm cho ước mơ trở thành hiện thực và đất nước biết chia sẻ ước mơ và tất cả mọi người có thể trở thành bậc anh hùng trong lịch sử thế giới. Tôi cam đoan rằng tất cả những người đang làm nên lịch sử thế giới ngày hôm nay đều có những ước mơ lớn khi còn trẻ.

Có quốc gia nào mà không truyền hy vọng và ước mơ cho tuổi trẻ mà tuổi trẻ lại có được sức mạnh để lãnh đạo thế giới hay không? Nước Mỹ với lịch sử hơn 200 năm đã tạo lập thế đứng trong lịch sử thế giới hôm nay. Và cũng như chúng ta biết chính những ước mơ vĩ đại của những bậc tiên phong ban đầu với tinh thần tiên phong đã đưa lại sức mạnh cho sự phát triển.

Nhưng ngày nay tôi thường nghe nói là tuổi trẻ không còn có những ước mơ vì tương lai hay là họ có ước mơ xoáy vào hiện tại bây giờ. Nếu quả thật như vậy thì không có gì buồn hơn, không những chỉ buồn cho từng cá nhân mà còn buồn cho cả dân tộc.

Ước mơ thường tạo nên con người. Uớc mơ có thể điều khiển cả tính công việc và ngay cả hôm nay, ước mơ giống như bánh lái của con thuyền. Bánh lái có thể nhỏ và không thấy được nhưng nó điều khiển hướng đi của con tàu. Cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái. Cũng như con tàu không có bánh lái người không có ước mơ sẽ mất hướng đi và sẽ trôi dạt lững lờ cho tới khi bị mắc kẹt trong đám rong biển.

Con người có ước mơ sai trái thì cũng nguy hiểm như là người không có ước mơ. Một người mà ước mơ không vượt qua sự tiện nghi cá nhân trong hiện tại thì cũng đáng thương như là người không có ước mơ gì cả : Anh ta không nhận thức được giá trị lớn lao nhất của tuổi thanh niên. Nếu bạn có ước mơ, hy vọng rằng bạn phải có thì hãy nâng niu nó, vì ước mơ của bạn là bánh lái sẽ quyết đinh hướng đi cho cuộc đời.

Tôi có một ước mơ khi năm đứa chúng tôi bắt đầu mở Công ty Kỹ nghệ Daewoo - Đó là cống hiến cho sự phát triển xã hội qua hoạt động của Công ty. Khởi đầu chúng tôi có 10.000$ trong căn phòng thuê nhỏ bé bẩn thỉu ở một góc tòa nhà, nhưng lức ấy chúng tôi có một ước mơ còn lớn hơn cả vũ trụ.

Ước mơ ấy bắt đầu trở thành hiện thực khi Công ty càng ngày càng phát triển và chỉ trong vòng 10 năm tôi đã có được tòa nhà lớn nhất ở Triều Tiên bây giờ là trung tâm Daewoo. Tuy nhiên vào lúc ấy tôi ngần ngại về việc xây dựng trung tâm Daewoo. Tôi nghĩ là đầu tư tiền vào thiết bị sản xuất để góp phần vào việc phát triển kinh tế thì tốt hơn. Tôi cũng e rằng người ta sẽ phê phán Công ty đầu cơ bất động sản.

Tuy nhiên tôi thay đổi cách nghĩ của mình và bắt đầu ước mơ mới, đó là khuếch trương Công ty tới mức tòa nhà đồ sộ ấy chứa hết nhân viên của Daewoo. Vào lúc ấy, hành động đó hầu như là không ai có thể tưởng tượng nổi, tuy nhiên tôi đã thực hiện được ước mơ ấy trong vòng 5 năm. Ngày nay Daewoo có hơn 100.000 nhân viên đủ để ngồi kín hết 3 tòa như vậy.

Giờ đây tôi có một ước mơ khác. Đó là làm ra sản phẩm có chất lượng tốt nhất trên thế giới trong khi tôi còn sống. Tôi đã lập nên một số kỷ lục thế giới, chẳng hạn có được xưởng đóng tàu lớn duy nhất như thế trên thế giới tại Daewoo Dapo. Phân xưởng áo quần lớn nhất thế giới ở Pusan; doanh số bán áo quần lớn nhất thế giới. Nhưng vẫn còn cái mà chúng tôi vẫn chưa đạt được, đó là làm ra sản phẩm có chất lượng tốt nhất trên thế giới.

Tôi vẫn nuôi dưỡng ước mơ này, với bất cứ sản phẩm nào miễn là nổi tiếng tốt nhất trên thế giới đối với những thứ cùng loại như viết máy Paker hay máy ảnh Nikkon. Dẫu là sản phẩm nào đi nữa cũng được, miễn sao họ nói là cái đó do ông Kim Woo Choong làm ra thuộc loại tốt nhất. Đó là ước mơ của tôi nhưng dường như không dễ gì đạt được. Trong một tương lai gần đây có thể điều đó là trở thành hiện thực, sau khi tôi truyền lại nỗ lực to lớn của Daewoo cho một người kế nghiệp xuất chúng.

Tôi cũng có một ước mơ khác, ước mơ lớn nhất đó là được tưởng nhớ là nhà doanh nghiệp đáng kính. Tôi không muốn nổi tiếng là giàu có hay là có nhiều tiền.

Theo như truyền thống thì ở Nam Triều Tiên, người ta không kính trọng thương nhân hay nói đúng hơn thì thương nhân là những người bị coi thường hoặc bị mọi người xa cách. Có lẽ lý do cơ bản nhất là truyền thống Khổng giáo ăn sâu trong mọi người về thứ bậc trong xã hội: Sĩ, Nông, Công, Thương... Vì theo trật tự này thì thương nhân nằm ở cuối. Cũng có một lý do khác là khuynh hướng gần đây có một số nhà kinh doanh nhắm tới mục đích cuối cùng là tích lũy tiền của. Nhưng không hiểu tại sao một doanh nhân không thể đạt được sự kính trọng như người ta dành cho giáo sư hay nghệ sĩ. Tôi muốn tưởng nhớ như là một người chuyên nghiệp xuất chúng trong lĩnh vực của mình và ước mơ cuối cùng của tôi là giúp tạo nên một xã hội trong đó doanh nhân được mọi người kính trọng. Và tôi tiếp tục làm việc để hướng tới biến ước mơ đó thành hiện thực.

Tuổi trẻ không có ước mơ thì không phải là tuổi trẻ. Ước mơ là điều tối quan trọng cho tuổi trẻ. Tuổi trẻ chính là ước mơ và lịch sử thuộc về những người biết ước mơ.

Sáng lập viên và Chủ tịch tập đoàn Daewoo

Kim Woo Choong

Bí quyết thành công của ông vua dầu mỏ John Davision Rockefeller


"Mai sau tớ sẽ trở thành ông chủ giàu có với 100 ngàn đô la tiền vốn." Đó là lời tuyên bố của John D. Rockefeller với những người bạn nhỏ của ông.

ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH ƯỚC MƠ

John D. Rockefeller (1839 – 1937) sinh ra và lớn lên trong một gia đình làm nghề buôn bán tại thành phố New York, trong một ngôi nhà hình hộp bình thường. Ông William A. Rockkefeller – bố của John là một chủ trang trại, William buôn bán nhiều thứ để kiếm sống như: tạp hóa, các loại thảo dược, da thú, muối, gỗ và cả việc hành nghề lang băm. Ông đặt rất nhiều hy vọng vào John. Được ông bố chăm chút, rèn đúc và truyền kinh nghiệm mua bán cho nên John sớm hình thành cung cách của một thương nhân. Ngay từ nhỏ, William tạo cho con trai cách ứng xử theo kiểu giao dịch khế ước, hàng tháng John đều được bố thanh toán cho một khoảng tiền công làm những việc lặt vặt. Dần dần, hình thành trong tâm tưởng John ý thức thương nghiệp.

Ngoài bố, John D. Rockefeller còn chịu ảnh hưởng rất lớn tâm tính cần cù chịu khó từ mẹ – bà Eliza. Mỗi ngày bà thức dậy vào lúc 4 giờ sáng để ra đồng làm việc, John cũng ra đồng phụ mẹ, giúp gia đình vắt sữa bò. Bà thường khuyên nhủ John về tư tưởng phần đấu trong khó khăn và cần mẫn tiết kiệm. Vì vậy, khi 60 tuổi, John đã phát biểu : Sống trong gia đình, tôi đã nhận được sự huấn luyện đặc thù.

HÀNH TRÌNH THỰC HIỆN ƯỚC MƠ

Ước mơ trở thành ông chủ giàu có âm ỉ cháy trong tâm trí, len lỏi trong từng tế bào khiến John không còn hứng thú học tập tiếp lên đại học. Ông chỉ có một khát vọng duy nhất là kiếm tiền. Năm 1855, khi John vừa tròn 16 tuổi, ông nghỉ học để đi học thêm khóa học ba tháng về thương mại, kế toán và ngân hàng. Sau đó, ông kiếm được một chân kế toán ở một hiệu buôn tại Houston với mức lương 4 Mỹ kim/ tuần. Tại đây, ông đã giúp cho hiệu buôn đạt được lãi suất kinh doanh cao nhờ vào bản tính làm việc cần mẫn cộng với khả năng kinh doanh thiên phú. Sau ba năm, lương ông lên 600 Mỹ kim, nhưng ông cho rằng đó là mức lương không xứng đáng và khi lời đề nghị tăng lương bị từ chối, ông nhận ra rằng đi làm thuê cho người khác thì hết đời cũng chắng khá lên được, muốn giàu, phải tự mình xây dựng cơ đồ.

Kết thúc ba năm đi làm thuê, John D. Rockefeller rẽ sang bước ngoặc mới. Ông hợp tác với người bạn có tên là Maurice Clark thành lập công ty chuyên kinh doanh các loại ngũ cốc, các loại thịt và các loại thực phẩm, lấy tên “Clark – Rockeleffer” khi chưa tròn 21 tuổi. Tuy nhiên, người bạn làm ăn của ông không tinh thông buôn bán và thường xuyên xảy ra những bất đồng nên John mua lại cổ phần của ông ta, chính thức trở thành ông chủ công ty năm 1865. Nhờ khả năng phán đoán thời cuộc và biết nắm lấy thời cơ nên công ty của John nhanh chóng phất lên thành một người giàu có trong mắt mọi người.

Năm 1861, cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ bùng nổ, giúp cho việc làm ăn của John trở nên thuận lợi. Ông cung cấp muối ăn và các loại vật tư khác cho quân đội. Số tiền ông tích cóp được đủ để cho ông chuyển sang một hướng kinh doanh khác. Từ năm 1863, John đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dầu mỏ. Ông quan sát từng tốp người đua nhau khai thác dầu thô đưa ra thị trường, ông nhận ra vấn đề then chốt để đưa ngành dầu mỏ phát triển là việc lọc dầu. Ông bỏ ra một số tiền lớn để đầu tư vào ngành lọc dầu. Năm 1870, John D. Rockefeller thành lập công ty dầu mỏ nước Mỹ với số vốn đăng ký là 1 triệu đô la, được xem là công ty lớn nhất nước Mỹ. Sản phẩm từ công nghệ lọc dầu đã giúp cho sự nghiệp kinh doanh của John phất lên nhanh chóng. Ông áp dụng các biện pháp hữu hiệu như giảm giá thành và mua lại các công ty dầu mỏ khác, sáp nhập vào công ty mình. Dần dần ông khống chế thị trường dầu mỏ Mỹ.

Sau khi khống chế được ngành dầu mỏ nước Mỹ, John D. Rockefeller bắt đầu hướng ra toàn cầu. Ông thực hiện chiến lược kinh doanh lũng đoạn có tên “Hoa hồng nở”. Bằng tinh thần lao động kiên trì, ý thức làm giàu không lùi bước, ông đặt ra yêu cầu hết sức nghiêm ngặt cho bản thân và đưa ra quy luật cạnh tranh khốc liệt trên thương trường. Các đối thủ cạnh tranh với ông phải chịu ngạt thở đành chấp nhận thỏa hiệp. Năm 1877, công ty Mobil (Standard) của John đã quét sách những đối thủ cạnh tranh tại khu mỏ dầu, tại thành phố Philadelphia và Pittsburgh.

Đến cuối thế kỷ 19, các mỏ dầu ở Pennsylvania bắt đầu cạn kiệt, Rockefeller bắt đầu thăm dò sang New York, New Jersey và tiểu bang Ohio. Năm 1880, Mobil cung cấp 95% dầu mỏ tại thị trường Mỹ, 75% dầu mỏ thị trường Châu Âu. Sản phẩm của công ty này có ở nhiều nơi trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á… Mạng lưới bán hàng rộng khắp đã mang về cho Rockefeller nguồn lợi nhuận kết xù, giúp ông vươn lên hàng đầu bảng xếp hạng trong số những người giàu nhất nước Mỹ.

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG ƯỚC MƠ

Ước mơ làm giàu của John D. Rockefeller thành công bắt nguồn từ ý chí kiên định và tài năng quản lý. Chiến lược thôn tính các công ty dầu mỏ khác của John khiến cho cả xã hội cảm thấy bất bình. Bản thân ông bị giới báo truyền thông công kích mạnh mẽ, họ gọi ông là: đao phủ, lang sói, kẻ cướp, tội phạm, lưu manh, cướp đoạt miếng cơm manh áo của mẹ góa con côi, là con quỷ hút máu của người nghèo. Nhưng John không thay đổi kế hoạch của mình. Ông quan niệm rằng, cạnh tranh khốc liệt là quy luật của thương trường. Cá lớn nuốt cá bé là hợp với lẽ đời. Ông mở rộng thị trường, mở rộng phạm vi khai thác nhằm cung cấp dầu mỏ chất lượng tốt nhất, với giả cả rẻ nhất là hoàn toàn phù hợp, không có gì sai trái.

Đồng thời, John D. Rockefeller có một tài năng quản lý kiệt xuất. Ba tiêu chí ông đưa ra cho kế hoạch thực hiện ước mơ của mình là: tiêu chuẩn, nhân tài và tư vấn. Ông tâm nguyện, sản phẩm dầu mỏ của ông cung cấp ra thị trường phải đạt tiêu chuẩn tốt nhất. Từ khi mới thành lập cho đến khi nổi tiếng toàn cầu, sản phẩm Standard luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm, đây chính là chính sách cơ bản để công ty tồn tại và phát triển. Thứ hai là tài năng, John luôn luôn cần những con người có tài năng và có quyết tâm đẩy sự nghiệp lên đỉnh cao, ông thu hút hàng nghìn nhân tài ưu tú. Đây chính là nguyên nhân quan trọng để công ty Mobil không bao giờ suy sụp. Theo các nhà lịch sử Mỹ đánh giá: Tập đoàn dầu mỏ Mobil đã thu gom những người làm việc đắc lực nhất về cho mình. Họ là một cơ cấu kinh tế có rất nhiều nhân tài. Tất cả họ đều giàu có. Khi họ bàn bạc vấn đề thì rõ ràng giống y như nội các của chính phủ đang mở hội nghị. Mỗi nhân viên của Mobil là một nhân tài được uốn nắn theo “tinh thần Mobil”, chịu sự khống chế nghiêm ngặt của Rockefeller và được bồi dưỡng xứng đáng. Cuối cùng, Rockfeller là một con người xem việc tư vấn là mạng sống cho sự cạnh tranh thị trường. Ông sử dụng nó như một phương thức để mở rộng thị trường, lôi kéo các nhân tài về phía mình và xây dựng Mobil ngày càng lớn mạnh.

Ước mơ trở thành người giàu có đã trở thành hiện thực nhưng đối với John D. Rockefeller, giàu có không phải là tất cả. Hãy suy ngẫm điều ông từng nói: Tôi tin chắc rằng, ai đó quan niệm tiền sẽ mang lại hạnh phúc là hoàn toàn sai lầm. Kẻ giàu có nhất cũng giống như mọi người trong chúng ta, giả sử họ có được niềm vui nhờ thừa tiền, thì niềm vui đó cũng bắt nguồn từ việc ngoài bản thân ra họ còn làm được nhiều việc tốt khiến người khác mãn nguyện. Như lời ông nói, nhờ giàu có, ông đã có điều kiện giúp đỡ mọi người, ông từng trợ giúp 500 triệu đô la cho nghiên cứu y học, giáo dục đại học và giáo hội Sáng lập qũy Rockefeller (1913) với tôn chỉ “đem hạnh phúc đến cho nhân loại”.

Thành công của ước mơ chỉ dành riêng cho một cá nhân nhưng kết quả của nó đem đến hạnh phúc cho nhiều người, đó chính là trường hợp của Vua dầu mỏ John Davison Rockefeller.

Những người biến ước mơ thành vàng

Khi Edwin C. Barnes bước xuống ga tàu hỏa ở West Orange, New Jersey, bề ngoài của anh trông có vẻ giống như một kẻ lang thang, nhưng trong trí tuệ của kẻ lang thang ấy ẩn chứa tư tưởng của một ông hoàng.

Trong lúc Barnes đi từ đường ray xe lửa đến văn phòng của Thomas A. Edison, tâm trí anh luôn hoạt động. Anh mường tượng ra cảnh mình đang đứng trước Edison. Barnes như nghe thấy anh đang yêu cầu Edison cho mình một cơ hội để thực hiện nỗi ám ảnh chi phối suốt cuộc đời, nỗi khát khao cháy bỏng được trở thành người hợp tác kinh doanh với nhà phát minh vĩ đại.

Khát vọng của Barnes không chỉ là một niềm hy vọng, cũng không chỉ là một niềm mong ước. Đó là nỗi khát khao sôi sục chảy trong huyết quản của anh. Nỗi khát khao rõ ràng và kiên định ấy mạnh hơn bất kỳ điều gì khác.

Vài năm sau, Edwin C. Barnes lại đứng trước Edison, cũng ở trong căn phòng nơi anh đã gặp nhà phát minh lần đầu tiên. Lần này thì khát vọng của anh đã thành hiện thực. Anh trở thành người hợp tác kinh doanh với Edison. Giấc mơ chi phối cuộc đời anh đã được hiện thực hóa.

Barnes thành công vì anh đã lựa chọn cho cuộc đời mình một mục tiêu rõ ràng, dành hết năng lượng, sức mạnh ý chí, nỗ lực cá nhân và tất cả những gì anh có để đạt bằng được mục tiêu đó.

Trong quãng thời gian năm năm trước khi cơ hội mà Barnes tìm kiếm xuất hiện (quãng thời gian anh chỉ làm công ăn lương trong văn phòng Edison), với mọi người, anh chỉ như một bánh răng nhỏ trong guồng máy kinh doanh của Edison. Nhưng trong thâm tâm Barnes, anh luôn là đối tác của Edison và cách nghĩ ấy nung nấu từng giây từng phút ngay từ ngày đầu tiên anh làm việc ở văn phòng của Edison.

Đó là một ví dụ điển hình minh họa cho sức mạnh của một khát vọng rõ ràng và mãnh liệt. Barnes đã đạt được mục đích vì anh muốn trở thành người cộng tác kinh doanh với Edison hơn bất kỳ điều gì khác. Anh đã vạch ra một kế hoạch nhằm đạt được mục đích đó và không bao giờ lùi bước. Anh kiên định giữ vững niềm khát khao của mình cho đến khi nó trở thành một nỗi ám ảnh và cuối cùng biến thành sự thật.

Khi đến West Orange, Barnes không tự nhủ rằng: “Mình sẽ thuyết phục Edison cho mình một công việc kiểu gì cũng được”, mà anh tự khẳng định với bản thân mình: “Mình sẽ gặp Edison và làm cho ông ta nhận ra rằng mình đến để cùng kinh doanh với ông”.

Anh không nói rằng: “Trong trường hợp thất bại, mình sẽ tìm kiếm một cơ hội khác”, mà anh nói: “Chỉ có một điều trên thế gian này mà mình quyết tâm phải đạt cho bằng được, đó là được cộng tác kinh doanh với Edison. Mình sẽ thiêu rụi tất cả những cây cầu sau lưng và đánh cuộc toàn bộ tương lai vào khả năng của bản thân để đạt được những gì mình muốn”.

Anh không để lại cho mình một con đường để rút lui. Anh phải thành công hay là chết. Đó chính là lý do giải thích cho câu chuyện thành công của Barnes.

Không được phép lùi bước

Câu chuyện sau có lẽ xảy ra từ lâu lắm rồi, thời đó, một chiến binh vĩ đại buộc phải đưa ra một quyết định để đảm bảo chiến thắng trên chiến trường. Ông chuẩn bị đem quân đi đánh một kẻ địch hùng mạnh với quân số vượt trội. Ông cho quân của mình lên thuyền, dong buồm ra khơi tới vương quốc của kẻ địch. Đến nơi, người chiến binh quả cảm cho tất cả quân trang và binh lính của mình xuống thuyền, sau đó ra lệnh đốt chính những chiếc thuyền đã chở họ. Ông nói với binh sĩ trước khi bắt đầu trận chiến: “Các ngươi có nhìn thấy những chiếc thuyền đang bốc cháy kia không? Điều đó có nghĩa là chúng ta không thể rời khỏi bờ biển này nếu chúng ta không chiến thắng! Giờ đây không còn sự lựa chọn nào khác, chúng ta phải chiến thắng hoặc chúng ta bị tiêu diệt”.

Và cuối cùng họ đã thắng.

Bất kỳ ai muốn thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải sẵn lòng đốt con thuyền của mình và cắt đứt mọi con đường có thể rút lui. Đó là cách duy nhất để đảm bảo duy trì trạng thái tinh thần khát khao chiến thắng, điều kiện cần thiết để vươn tới thành công.

Buổi sáng sau trận hỏa hoạn khủng khiếp ở Chicago, một nhóm thương gia đứng trên phố State, nhìn lại đống tro tàn mà trước đó không lâu còn là cửa hàng của họ. Họ tranh luận với nhau để quyết định xem liệu nên xây dựng lại mọi thứ ở đây hay rời khỏi Chicago và làm lại từ đầu tại một vùng đất khác nhiều triển vọng hơn. Cuối cùng thì tất cả họ đều quyết định rời khỏi Chicago. Chỉ có một người duy nhất quyết tâm ở lại bám trụ trên mảnh đất chỉ còn là đống tro tàn.

Người thương gia đó đã chỉ tay vào đống tro tàn trước kia từng là cửa hàng của mình và tuyên bố: “Các ngài hãy chờ xem, chính ngay tại chỗ này đây, tôi sẽ xây nên một cửa hàng lớn nhất thế giới, cho dù nó có sập xuống thêm bao nhiêu lần đi chăng nữa vì hỏa hoạn”.

Đó là năm 1871. Không lâu sau, cửa hàng của ông đã được xây dựng lại. Cho đến bây giờ, cửa hàng bách hóa Marshall Field vẫn đứng đó sừng sững như một tượng đài biểu trưng cho sức mạnh của niềm khát khao cháy bỏng. Thật dễ cho Marshall Field nếu ông làm đúng những gì mà các thương gia khác đã làm. Khi mọi chuyện trở nên khó khăn và tương lai có vẻ mờ mịt, họ chỉ việc bỏ cuộc và tìm đến nơi có cuộc sống dễ dàng hơn.

Hãy lưu ý kỹ sự khác biệt này giữa Marshall Field và những thương gia khác, bởi vì đó cũng chính là điểm khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại.

Mỗi con người khi đến tuổi hiểu được giá trị của tiền bạc đều mong muốn có được nó. Nhưng chỉ mong muốn thôi sẽ không mang đến cho bạn sự giàu có. Bạn cần có Khát vọng làm giàu, biến khát vọng đó thành một nỗi ám ảnh, lập một kế hoạch chi tiết về cách thức và phương tiện để đạt được sự giàu có và kiên trì thực hiện bằng được những kế hoạch đó mà không bao giờ lo sợ thất bại. Đó mới là những yếu tố cần và đủ giúp bạn có được cuộc sống giàu sang.

Sáu bước để biến khát khao thành vàng

Phương pháp để biến khát vọng giàu có của bạn thành những tài sản vật chất tương đương bao gồm sáu bước rõ ràng và thiết thực sau đây:

Bước một: Xác định rõ trong tâm trí bạn số tiền chính xác mà bạn muốn có. Nếu bạn chỉ nói: “Tôi muốn có rất nhiều tiền” thôi thì chưa đủ. Hãy xác định rõ số tiền này.

Bước hai: Xác định rõ xem bạn định đánh đổi cái gì để nhận được số tiền mà bạn mong muốn (một thực tế mà ai cũng phải thừa nhận là mọi thứ đều có giá của nó).

Bước ba: Xác định rõ ràng ngày mà bạn muốn có được số tiền đó.

Bước bốn: Hãy lên một kế hoạch cụ thể để thực hiện ước muốn của bạn và bắt đầu thực hiện kế hoạch này ngay, dù bạn đã sẵn sàng hay chưa.

Bước năm: Viết một bản tuyên bố rõ ràng và ngắn gọn trong đó liệt kê số tiền mà bạn muốn có, thời hạn để đạt được số tiền đó, cái giá mà bạn sẵn sàng trả và một kế hoạch cụ thể để đạt được nó.

Bước sáu: Hãy đọc to bản tuyên bố của bạn thành tiếng hai lần một ngày, một lần trước khi đi ngủ và một lần khi thức dậy. Trong lúc bạn đọc, hãy tập tưởng tượng, cảm nhận và tin rằng bạn đã có được số tiền đó rồi.

Việc bạn tuân theo những chỉ dẫn được mô tả trong sáu bước trên là rất quan trọng và cần thiết. Trong đó, bước thứ sáu đặc biệt quan trọng. Bạn sẽ phàn nàn rằng làm sao có thể “tưởng tượng là mình đang có thật nhiều tiền” trong khi bạn thật sự chưa có nó. Một khát vọng làm giàu mãnh liệt sẽ giúp bạn thực hiện điều tưởng như không thể ấy. Nếu bạn thật sự khát khao giàu sang đến mức điều đó trở thành nỗi ám ảnh thì sẽ không khó để bạn tự thuyết phục mình rằng bạn sẽ đạt được sự giàu sang như thế. Mục đích rõ ràng là muốn có nhiều tiền và sự quyết tâm có được số tiền đó sẽ khiến bạn tin rằng bạn sẽ đạt được như vậy.

Nếu bạn chưa từng được dạy về cách thức vận hành của trí óc con người, những hướng dẫn trên có vẻ như không thực tế. Nhưng có lẽ thông tin sau sẽ giúp bạn tin tưởng hơn vào những chỉ dẫn trên: chính ông vua thép Andrew Canergie, một trong những người thành công nhất trong lịch sử nước Mỹ, đã nói với tôi về 6 bước đó. Andrew Carnegie bắt đầu sự nghiệp từ một người lao động bình thường trong những nhà máy thép. Mặc dù khởi đầu từ một xuất phát điểm thấp như vậy, ông đã thành công trong việc vận dụng những nguyên tắc trên để có được một gia tài khoảng hơn một trăm triệu đôla (tương đương với hai mươi tỷ đôla ngày nay và có thể còn nhiều hơn thế).

Sẽ thuyết phục hơn nếu bạn biết rằng nhà phát minh nổi tiếng và cũng là một doanh nhân rất thành đạt Thomas A. Edison đã nghiên cứu rất kỹ 6 bước nêu trên. Chính ông đã đồng ý rằng, chúng không chỉ là những bước cần thiết giúp tích lũy tiền bạc mà còn cần thiết để đạt được bất kỳ mục đích nào trong cuộc đời bạn.

Những bước nêu trên không đòi hỏi bạn phải lao động cực nhọc, không đòi hỏi sự hy sinh. Để áp dụng chúng cũng không đòi hỏi một học vấn quá cao nhưng bạn cần có một trí tưởng tượng đủ để có thể cảm nhận và thấu hiểu được rằng tích lũy tiền bạc không thể trông chờ vào cơ hội, số phận hay sự may mắn.

Giờ đây, bạn có thể đã hiểu rằng bạn không bao giờ có được nhiều của cải nếu bạn không có một khát vọng làm giàu mãnh liệt và một niềm tin thật sự rằng bạn sẽ đạt được điều đó.

Sức mạnh của những giấc mơ lớn

Nếu như bạn đang chạy trong cuộc đua tới cái đích là sự thành công và giàu có, bạn có thể cảm thấy được khích lệ khi biết rằng thế giới già cỗi mà chúng ta sống này đang đòi hỏi hơn bao giờ hết những ý tưởng mới, những phương cách làm việc mới, những nhà lãnh đạo mới, những phát minh mới, những phương pháp, kiểu dáng, phiên bản mới. Dường như tất cả mọi thứ trong thời đại chúng ta đều đang đòi hỏi được cách tân để trở nên mới mẻ hơn. Đằng sau tất cả những đòi hỏi đó, có một phẩm chất mà bạn nhất thiết phải có để đạt đến thành công: đó là sự kiên định theo đuổi mục tiêu, nghĩa là biết rõ mình muốn gì và khát khao cháy bỏng đạt được nó.

Nếu như bạn thật sự có khát vọng làm giàu, hãy nhớ rằng: những nhà lãnh đạo thực sự của thế giới này luôn là những người được trang bị và biết sử dụng một cách thiết thực sức mạnh vô hình của những cơ hội còn chưa hình thành. Họ chính là những người chuyển những cơ hội đó thành những tòa nhà chọc trời, những thành phố, những nhà máy, những phương tiện vận tải, những hình thức giải trí và những tiện nghi làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng, nhanh gọn, tốt đẹp và thoải mái hơn.

Trong khi vạch ra kế hoạch cụ thể để đạt được sự thành công và giàu có, bạn đừng bị lung lay hay nhụt chí vì những người xem bạn như kẻ mơ mộng. Để làm được một điều gì đó lớn lao trong thế giới đang thay đổi này, bạn phải học hỏi tinh thần của những người đi tiên phong trong quá khứ, những người ước mơ cống hiến tất cả những giá trị của mình cho nền văn minh nhân loại. Tinh thần ấy là dòng huyết mạch cho sự phát triển, là cơ hội cho bạn và tôi giải phóng hết những năng lực tiềm ẩn của mình.

Khát vọng cháy bỏng muốn trở thành một ai đó và muốn làm được một điều gì đó là điểm xuất phát cho những người biết ước mơ cất cánh. Mơ ước không bao giờ hình thành trong những người thờ ơ, lười biếng hay thiếu tham vọng.

Nếu điều mà bạn mong ước làm là đúng đắn và bạn tin vào nó, hãy tiến lên và thực hiện nó. Hãy biến giấc mơ của bạn thành sự thật, đừng bận tâm xem “người đời” nói gì nếu bạn gặp thất bại tạm thời. Họ không hiểu rằng mỗi sự thất bại đều mang trong mình hạt giống của một thành công tương đương.

Marconi ước mơ về một hệ thống có thể truyền tải âm thanh từ nơi này sang nơi khác mà không cần dây dẫn. Bạn sẽ thấy thú vị khi biết rằng “những người bạn” của Marconi đã tống ông vào một bệnh viện tâm thần khi ông thông báo với họ rằng đã khám phá ra nguyên lý để truyền những thông điệp qua không gian. Ngày nay, chúng ta đã nhận thấy rõ rằng Marconi không mơ mộng hão huyền chút nào. Bằng chứng có thể được tìm thấy trong mỗi chiếc radio, tivi, điện thoại di động, vệ tinh viễn thông hay bất kỳ một thiết bị vô tuyến quen thuộc nào khác.

May mắn là những người biết ước mơ ngày nay đã có nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với ngày xưa. Thế giới ngày nay ẩn chứa vô số cơ hội mà những người “mơ mộng” trong quá khứ chưa từng biết tới.

Nếu bạn không tin điều đó là sự thật, nếu bạn cảm thấy tuyệt vọng vì những thất bại gần đây, thì những gì bạn sắp đọc sẽ có rất nhiều ý nghĩa. Bạn sẽ hiểu rằng thất bại chính là tài sản quý giá nhất. Hầu hết những người thành đạt đều đi lên từ bước khởi đầu hết sức khó khăn, trải qua rất nhiều những trở ngại tưởng như không thể vượt qua trước khi “đến đích”. Bước ngoặt trong cuộc đời những người thành đạt thường chính là những giai đoạn khủng hoảng như thế, đó là thời điểm mà qua đó họ “lột xác” và nhìn nhận ra một “cái tôi” khác trong con người mình.

Sydney Porter đã tìm thấy những phẩm chất thiên tài ngủ quên trong ông chỉ sau khi chịu đựng một nỗi bất hạnh lớn. Ông bị buộc tội tham ô và bị giam giữ trong một xà lim ở Columbus, Ohio. Chính tại nơi đây, ông đã làm quen với một “cái tôi” khác của chính mình.

Sydney Porter bắt đầu viết truyện ngắn. Sau đó, mặc dù vẫn đang bị nhốt trong xà lim, ông bắt đầu bán những truyện ngắn đó cho các tạp chí dưới bút danh O. Henry. Nhờ sử dụng trí tưởng tượng của mình, ông ta khám phá ra rằng bản thân ông có thể trở thành một nhà văn vĩ đại thay vì là một tên tội phạm khốn khổ và bị ruồng bỏ. Thời điểm được ra tù cũng là lúc O. Henry đã nổi tiếng khắp nước Mỹ như một nhà văn viết truyện ngắn xuất sắc nhất.

Thomas Edison ước mơ về một bóng đèn có thể thắp sáng được bằng điện. Ông liền bắt tay vào hành động để hiện thực hóa ước mơ ấy. Mặc cho hơn mười ngàn lần thất bại, nhà phát minh vẫn kiên trì với giấc mơ cho đến khi tạo ra được cho thế giới này thêm một thành tựu vĩ đại.

Henry Ford, một thanh niên nghèo khó và không được học hành đến nơi đến chốn, luôn mơ ước về một chiếc xe không cần ngựa kéo. Anh bắt tay ngay vào công việc với những công cụ thô sơ mà không chờ cho đến khi cơ hội thuận lợi đến với mình. Ngày nay, bằng chứng về ước mơ của Ford có thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào trên trái đất. Ford đã cống hiến nhiều sức lực vào việc hiện thực hóa giấc mơ ấy hơn bất kỳ người nào khác vì ông không bao giờ lo sợ rằng một ngày nào đó mình sẽ thoái chí và từ bỏ ước mơ.

Có một sự khác biệt cơ bản giữa việc ước ao một điều gì đó và việc sẵn sàng đón nhận nó. Chẳng ai sẵn sàng đón nhận điều gì cho đến khi người đó tin tưởng rằng họ sẽ đạt được điều đó. Điều quan trọng là trạng thái tinh thần phải luôn tin tưởng, chứ không chỉ hy vọng hay ước muốn. Cởi mở là yếu tố cần thiết để có được niềm tin. Một đầu óc bảo thủ sẽ không thể khích lệ bạn có được niềm tin và lòng can đảm thật sự.

Niềm khát khao mạnh hơn tạo hóa

Để tạo ra một điểm nhấn thích hợp cho chương này, tôi muốn giới thiệu đến các bạn con người kỳ lạ nhất mà tôi từng được biết. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cậu ấy là vài phút sau khi cậu chào đời. Nhưng điều kỳ lạ là cậu bé sinh ra mà không có đôi tai. Khi nhận xét về trường hợp này, bác sĩ kết luận rằng đứa bé gần như sẽ bị câm và điếc suốt đời.

Tôi không chấp nhận ý kiến đó của bác sĩ. Tôi có quyền làm thế, vì tôi chính là cha đứa bé. Tôi cũng đã đi đến một quyết định nhưng không biểu lộ nó ra ngoài mà nung nấu trong tim.

Trong thâm tâm, tôi luôn tin rằng con trai tôi rồi sẽ nghe và nói được. Bằng cách nào? Tôi chắc rằng phải có một cách nào đó và tôi biết là tôi sẽ tìm ra nó. Tôi nghĩ về những lời của Emerson bất tử: “Tiến trình của vạn vật trong thế giới này dạy chúng ta bài học lớn về niềm tin”. Tất cả những gì ta cần làm là tuân theo. Sẽ luôn có những chỉ dẫn thích hợp cho mỗi chúng ta, và bằng cách khiêm tốn lắng nghe, chúng ta sẽ nghe thấy.

Và lời chỉ dẫn thích hợp mà tôi đã nghe thấy chính là "Hãy biết khát khao"! Hơn bất cứ điều gì khác, tôi khao khát con trai mình sẽ không phải làm một người câm điếc suốt đời. Vì khát khao đó mà tôi không bao giờ lùi bước dù chỉ một giây.

Tôi có thể làm được gì đây? Tôi không biết chắc chắn nhưng dù thế nào đi nữa thì tôi cũng sẽ tìm ra được những cách thức và phương tiện để gieo vào trong tâm trí con trai mình khát khao cháy bỏng đó, cho dù đứa trẻ không có đôi tai.

Ngay khi con đã đủ lớn để cùng hợp tác, tôi sẽ rót vào tâm trí nó niềm khát khao mãnh liệt được nghe thấy. Và tôi tin rằng Tạo hóa với phương pháp riêng của mình sẽ biến khát khao tinh thần đó thành sự thật.

Ý niệm đó luôn sôi sục trong tâm trí tôi, nhưng tôi không nói với ai cả. Mỗi ngày tôi đều tự hứa với mình rằng, con trai tôi sẽ không bị câm điếc suốt đời.

Khi con lớn hơn và bắt đầu chú ý đến sự vật xung quanh, chúng tôi nhận thấy rằng nó có thể nghe được đôi chút. Đến tuổi trẻ con thường bắt đầu tập nói, con trai tôi vẫn không nói được gì cả, nhưng qua hành động của nó, chúng tôi thấy rằng dường như nó có chút phản ứng với âm thanh.

Đó là tất cả những gì tôi cần biết! Tôi đoán chắc rằng nếu con trai tôi có thể nghe dù chỉ là chút xíu thôi thì thính lực của nó rồi sẽ phát triển. Sau đó, một chuyện bất ngờ đã xảy ra mang đến cho tôi niềm hy vọng lớn.

Chúng tôi mua một chiếc máy hát. Khi lần đầu tiên nghe thấy tiếng nhạc từ chiếc máy hát đó, con trai tôi tỏ ra rất phấn chấn và ngay lập tức giành lấy chiếc máy. Có lần, nó đi cho máy quay đi quay lại một chiếc đĩa hát trong gần hai tiếng đồng hồ. Nó đứng trước máy hát với hàm răng cắn chặt rìa vỏ máy. Chúng tôi không thể hiểu được ý nghĩa của hành động đó cho đến mãi những năm sau này, khi chúng tôi biết được nguyên lý: âm thanh có thể truyền được qua xương.

Không lâu sau chuyện với chiếc máy hát, tôi đã khám phá ra rằng con trai tôi có thể nghe rõ nếu như tôi nói mà kề môi chạm vào xương chũm của nó, phần xương phía sau mang tai và dưới hộp sọ.

Sau khi khẳng định được rằng con có thể nghe giọng tôi một cách rõ ràng, ngay lập tức tôi bắt đầu truyền vào tâm trí nó khát khao được nghe và nói. Tôi phát hiện ra rằng nó rất thích được nghe kể chuyện trước khi đi ngủ, vì thế tôi tự nghĩ ra những câu chuyện nhằm phát triển tinh thần tự chủ, óc tưởng tượng và khát khao mãnh liệt được nghe như mọi người bình thường khác trong tâm hồn non nớt của con.

Những câu chuyện mà tôi sáng tác thường đi theo một mạch riêng mà tôi cố tình nhấn mạnh. Mỗi lần kể tôi lại thêm vào những màu sắc và tình tiết mới mẻ đầy kịch tính. Tất cả các câu chuyện đều được xây dựng để gieo vào trong tâm trí đứa bé một quan niệm rằng nỗi bất hạnh của nó không phải là một món nợ mà ngược lại là một tài sản đầy giá trị. Từ kinh nghiệm và những nghiên cứu cá nhân, tôi tin tưởng chắc chắn rằng mỗi điều bất lợi đều mang trong nó một lợi thế tương đương. Tuy nhiên, ngoại trừ niềm tin ấy, tôi phải thừa nhận là mình không hề có ý tưởng khả dĩ nào có thể giúp biến nghịch cảnh thành một tài sản như thế.

Một thế giới mới chỉ với 6 xu

Khi phân tích lại những kinh nghiệm trong quá khứ, giờ đây tôi có thể thấy rằng niềm tin mà con trai dành cho tôi đã đưa đến những kết quả đáng kinh ngạc. Đứa trẻ không bao giờ thắc mắc về những gì tôi nói với nó. Tôi đã truyền cho con trai mình ý tưởng là nó có một lợi thế riêng so với anh nó. Lợi thế ấy sẽ được thể hiện theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ, các giáo viên trong trường học sẽ nhận thấy rằng nó không có đôi tai và vì vậy, họ sẽ đặc biệt chú ý và đối xử cực kỳ tử tế với nó. Sự thực là họ đã luôn làm như vậy. Tôi còn truyền cho con nhiều ý nghĩ tích cực khác. Ví dụ như khi nó đủ lớn để đi bán báo (anh trai nó đã trở thành người chuyên phát hành báo), nó sẽ có lợi thế lớn hơn nhiều so với anh nó. Người ta sẽ trả thêm tiền cho số báo mà nó bán vì họ sẽ thấy nó là một cậu bé sáng sủa và siêng năng cho dù không có đôi tai.

Khi con trai tôi lên bảy, lần đầu tiên, nó cho chúng tôi thấy rằng phương pháp khích lệ tinh thần của chúng tôi đã bắt đầu đơm hoa kết trái.

Trong suốt vài tháng liền, nó đã xin được đi bán báo nhưng vợ tôi nhất quyết không đồng ý. Cuối cùng, đứa trẻ đã quyết định tự mình giải quyết vấn đề. Một buổi chiều nọ, khi ở nhà với người giúp việc, nó đã trèo qua cửa sổ nhà bếp, nhảy xuống đất và một mình trốn ra ngoài. Nó mượn 6 xu từ người thợ đóng giày hàng xóm và mua báo để bán. Nó bán hết số báo đó, thu hồi vốn, rồi lại dùng số tiền này mua báo và đem bán cho đến tối. Sau khi trả lại sáu xu mượn của người đóng giày, nó còn lại số tiền lời bốn mươi hai xu. Đêm đó, khi về đến nhà, chúng tôi thấy nó đang nằm ngủ trên giường với số tiền nắm chặt trong tay.

Vợ tôi mở bàn tay con ra để lấy những đồng xu và khóc. Phản ứng của tôi lại khác. Tôi nở nụ cười sung sướng vì biết rằng mình đã thành công trong việc nỗ lực gieo lòng tự tin vào tâm trí đứa con thân yêu.

Vợ tôi xót thương cho con trai mình vì chỉ nhìn thấy trong dự án kinh doanh đầu tiên của nó hình ảnh một đứa trẻ điếc trốn ra đường và mạo hiểm tính mạng để kiếm tiền. Tôi lại thấy đó là hình ảnh một doanh nhân nhỏ tuổi đầy can đảm, tham vọng, tự chủ và luôn tin tưởng hai trăm phần trăm vào thắng lợi của mình. Nó đã kinh doanh bằng sáng kiến riêng và đã chiến thắng. Tôi không chỉ hài lòng mà còn rất ấn tượng về con trai mình. Nó đã chứng tỏ năng lực và sự tháo vát, những hành trang quan trọng sẽ đi theo nó suốt cuộc đời.

Đứa trẻ điếc ấy dần học lên cao, trung học rồi đại học, mà vẫn không thể nghe được lời giảng của giáo viên, trừ khi họ nói thật to ở khoảng cách rất gần. Nó không tới trường câm điếc và chúng tôi cũng không muốn con trai mình học ngôn ngữ cử chỉ. Chúng tôi quyết tâm để con sống một cuộc sống bình thường như những đứa trẻ bình thường khác. Chúng tôi giữ vững quyết tâm đó dù nhiều lần phải tranh cãi quyết liệt với các cán bộ quản lý nhà trường.

Khi con trai tôi học trung học, nó đã thử dùng máy trợ thính nhưng không có tác dụng gì cả.

Trong tuần cuối cùng ở đại học, một chuyện đã xảy ra và đánh dấu bước ngoặt quan trọng nhất của cuộc đời con trai tôi. Có ai đó đã tình cờ gửi cho nó một thiết bị trợ thính đang trong thời kỳ thử nghiệm. Nó không thiết tha gì lắm với việc sử dụng thử chiếc máy vì đã nhiều lần thất vọng với những thiết bị cùng loại. Cuối cùng, nó nhặt thiết bị lên, hờ hững đeo vào tai rồi bật máy. Và như một phép lạ, niềm khát khao bấy lâu được nghe như một người bình thường của nó đã trở thành sự thật. Lần đầu tiên trong đời, con trai tôi có thể trò chuyện tự nhiên với những người khác mà họ không cần phải nói to như hét vào tai nó. Nó thật sự đã bước vào một thế giới khác hoàn toàn với thế giới trước kia mà nó đã sống.

Khát vọng đã bắt đầu có kết quả nhưng chiến thắng đó vẫn chưa toàn vẹn. Con trai tôi vẫn còn phải tìm kiếm những cách thức rõ ràng và thực tế để biến khiếm khuyết của mình thành một lợi thế tương đương.

Tư tưởng tạo nên những điều kỳ diệu

Say sưa với niềm vui sướng được khám phá thế giới âm thanh, con trai tôi đã viết một lá thư đến nhà sản xuất của bộ máy trợ thính đó, nhiệt tình kể lại những trải nghiệm của bản thân. Một điểm đặc sắc nào đó trong lá thư đã làm cho nhà sản xuất mời nó đến New York. Nó được dẫn đi tham quan nhà máy và trong khi đang nói chuyện với kỹ sư trưởng về thế giới mới của mình thì một linh cảm, một ý tưởng, một sáng kiến - bạn gọi bằng cách nào cũng được - chợt lóe lên trong tâm trí nó. Lực đẩy vô hình của ý tưởng đó đã biến sự mất mát của con trai tôi thành một tài sản quý giá, thứ tài sản được định sẵn là mang đến tiền bạc và hạnh phúc lâu dài không chỉ cho nó mà còn cho hàng ngàn người khác.

Nội dung tổng quát và bản chất của lực đẩy vô hình đó là: Con trai tôi nghĩ rằng mình có thể giúp đỡ hàng triệu người điếc khác đang phải sống mà không có các thiết bị trợ thính nếu nó tìm được cách kể cho họ nghe về cuộc sống mới mà nó đang tận hưởng sau khi sử dụng thiết bị đó.

Trong suốt một tháng, con trai tôi chuyên tâm nghiên cứu và phân tích toàn bộ hệ thống tiếp thị của nhà sản xuất những thiết bị trợ thính ấy. Nó lên một kế hoạch tiếp cận với những người khiếm thính trên toàn cầu nhằm chia sẻ với họ thế giới đổi thay mà nó vừa khám phá. Sau khi hoàn thành, con trai tôi viết hẳn một dự án dài hạn hai năm dựa trên những phát hiện của riêng nó. Dự án được trình bày với công ty và ngay lập tức nó được giao cho một vị trí để thực hiện tham vọng ấy.

Con trai tôi đã hơi mơ mộng một chút khi bắt tay vào việc. Nó tin rằng mình được sinh ra để mang hy vọng và niềm tin đến cho hàng ngàn người khiếm thính, những người mà nếu không có sự giúp đỡ của nó, có thể sẽ phải vĩnh viễn sống trong thế giới vô thanh.

Tôi hoàn toàn không nghi ngờ khả năng con trai tôi - Blair - có thể sẽ trở thành một người câm điếc suốt đời nếu tôi và vợ tôi không cố gắng định hình trong tâm trí nó một khát khao cháy bỏng được nghe nói như bao người bình thường khác.

Khi tôi gieo vào tâm trí Blair khát khao được nghe, nói và sống như bao người bình thường khác, khát khao ấy đã tạo ra một ảnh hưởng đặc biệt khiến Tạo hóa trở thành một cây cầu bắc qua hố ngăn cách im lặng giữa trí óc nó với thế giới bên ngoài.

Thật vậy, con đường biến một khát khao cháy bỏng thành một giá trị vật chất nào đó tương đương thường không bằng phẳng mà rất quanh co, khúc khuỷu. Blair khát khao nghe được bình thường và giờ đây điều đó đã trở thành hiện thực, cho dù nó được sinh ra trong tật nguyền. Trong khi đó, hoàn cảnh có thể dễ dàng đẩy một người không có khát khao mãnh liệt xuống đường với vài cây bút chì và một cái ly thiếc.

“Lời nói dối vô hại” mà tôi đã gieo vào tâm trí Blair khi còn nhỏ đã làm cho nó tin rằng nỗi bất hạnh mà nó phải chịu đựng rồi sẽ trở thành một tài sản lớn. Niềm tin ấy giờ đây đã được chứng minh là đúng. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng nếu con người thực sự có niềm tin cộng với một khát khao cháy bỏng về một điều gì đó thì dù đúng hay sai, điều đó cũng sẽ trở thành sự thật. Chân lý đó đúng và rộng mở với tất cả mọi người.

Một đoạn ngắn trong bài báo về nữ ca sĩ opera nổi tiếng Schumann-Heink sẽ giúp chúng ta hiểu tại sao cô lại đạt được những thành công kỳ diệu đến thế. Tôi muốn trích dẫn đoạn văn ấy dưới đây bởi thông điệp của nó không gì khác hơn chính là: Niềm khát khao mãnh liệt sẽ mang đến thành công.

“Lúc mới bắt đầu sự nghiệp của mình, Schumann-Heink đã đến gặp giám đốc nhà hát nhạc kịch Vienna và đề nghị ông nghe thử giọng hát của mình. Nhưng ông ta đã không thèm nghe. Sau khi liếc nhìn vẻ vụng về và cách ăn mặc tuềnh toàng của cô gái, ông giám đốc đã tuyên bố thẳng thừng không chút khách sáo: “Với khuôn mặt và vẻ ngoài không có gì đặc sắc như thế này, làm sao cô có thể hy vọng thành công trong giới ca kịch cơ chứ? Thôi nào cô gái ngoan, hãy từ bỏ ý định đó đi. Hãy về mua một chiếc máy may và hàng ngày ở nhà may vá. Cô không bao giờ trở thành ca sĩ được đâu!”

Nhưng dự đoán của ông giám đốc đã sai, cho dù từ cái “không bao giờ” mà ông nghĩ đến hiện thực thành công của Schumann-Heink là cả một khoảng thời gian dài. Giám đốc nhà hát nhạc kịch thành Vienna hiểu biết nhiều về kỹ thuật ca hát nhưng ông lại chẳng biết gì về sức mạnh của lòng khát khao, đặc biệt khi nó trở thành một nỗi ám ảnh. Nếu ông hiểu rõ hơn về sức mạnh này, ông có lẽ đã không mắc phải một sai lầm là bỏ qua một thiên tài mà không cho người đó bất cứ cơ hội nào để thử sức.

Vài năm về trước, một trong những trợ tá kinh doanh của tôi bị ốm. Càng ngày sức khỏe anh ấy càng tệ đi và cuối cùng anh được đưa đến bệnh viện để phẫu thuật. Bác sĩ báo trước với tôi rằng anh ấy còn rất ít cơ hội được sống. Nhưng đó là ý kiến của bác sĩ chứ không phải của người bệnh. Trước khi được đẩy vào phòng mổ, anh đã nói thầm với tôi: “Đừng lo lắng quá, sếp. Tôi sẽ ra khỏi đây trong vài ngày tới thôi mà”. Cô ý tá gần đó nhìn tôi bằng ánh mắt cảm thông. Nhưng rồi người bệnh đã qua khỏi. Sau khi mọi chuyện đã qua, bác sĩ của anh nói: “Chính khát khao được sống chứ không thể là cái gì khác đã cứu sống anh ấy. Có lẽ anh ấy đã không qua khỏi nếu như không dũng cảm từ chối lưỡi hái của tử thần”.

Tôi rất tin vào sức mạnh của niềm khát khao được hậu thuẫn bởi niềm tin. Tôi đã thấy sức mạnh này nâng con người từ những xuất phát điểm rất thấp lên những tầm cao của tiền tài và danh vọng. Tôi đã thấy nó giành lấy sự sống ngay trên tay của tử thần. Tôi đã thấy nó giúp bao người gượng dậy sau khi bị đánh ngã bởi hàng trăm ngàn khó khăn thử thách. Tôi đã thấy sức mạnh diệu kỳ đó mang đến cho con trai tôi một cuộc sống bình yên, hạnh phúc và thành đạt, mặc cho Tạo hóa đã tạo ra nó mà không cho nó đôi tai.

Vậy làm cách nào để bạn có thể nắm giữ và sử dụng được sức mạnh của khát vọng? Phần đầu tiên của câu trả lời đã có trong những kỹ thuật được đề cập đến trong phần đầu chương này. Bạn sẽ tiếp tục tìm thấy toàn bộ đáp án cho câu hỏi trên trong các chương tiếp theo của cuốn sách.

Qua một vài nguyên tắc kỳ diệu và đầy sức mạnh, Tạo hóa đã che giấu một chân lý ẩn bên trong sự thôi thúc của khát vọng. Chân lý ấy không chấp nhận những từ như “không thể” và không chấp nhận bất kỳ một thực tế nào mang tên “thất bại”.

Tôi có một giấc mơ



Hôm nay, tôi sung sướng có mặt ở đây cùng các bạn trong cuộc tuần hành vì tự do vĩ đại nhất trong lịch sử nước ta.
Một trăm năm trước đây, một người Mỹ vĩ đại – mà chúng ta hôm nay đang đứng dưới bóng tượng đài của người – đã ký bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ. Văn kiện trọng đại này đã đến như ánh sáng hải đăng dẫn soi niềm hi vọng của hàng triệu người da đen, những con người bị thiêu héo trong ngọn lửa của sự bất công khinh miệt. Nó đã đến như bình minh rộn rã để kết thúc đêm dài tăm tối của kiếp nô lệ.
Nhưng một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do. Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn còn què quặt do gông cùm của lòng kỳ thị và xiềng xích của tinh thần phân biệt. Một trăm năm sau, người da đen vẫn sống trên hoang đảo của nghèo khó ngay giữa lòng đại dương bao la của phồn vinh vật chất. Một trăm năm sau, người da đen vẫn tàn úa trong những xó tối của xã hội Mỹ và nhận ra rằng họ chỉ là những kẻ bị lưu đày ngay trên quê hương mình. Hôm nay, chúng ta có mặt ở đây để phô bày sự ô nhục ấy.
Trong một ý nghĩa nào đó, ngày nay chúng ta gặp nhau tại thủ đô của đất nước để trả một món nợ. Khi những kiến trúc sư của nền cộng hòa viết lên những lời uy vĩ cho bản Hiến pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập, họ đã công bố những cam kết mà chúng ta, mọi người Mỹ, là người được thừa hưởng. Lời hứa ấy nói rằng mọi người, vâng, người da đen cũng như người da trắng, cần được bảo đảm để hưởng những "quyền bất khả nhượng" là "quyền được sống, được hưởng tự do, và mưu cầu hạnh phúc". Hôm nay rõ ràng là nước Mỹ đã bội tín thanh toán tấm séc này đối với con dân da màu của mình. Thay vì tôn trọng nghĩa vụ thiêng liêng ấy, nước Mỹ đã trả cho người da đen một tấm séc giả, tấm séc bị trả lại với ghi chú “thiếu tiền bảo chứng”.
Nhưng chúng ta không thể tin rằng ngân hàng công lý lại phá sản. Chúng ta không thể tin là thiếu tiền bảo chứng cho những cơ hội vượt vũ môn của đất nước này. Ví thế, chúng ta vẫn phải đòi giải ngân tấm séc này – tấm séc thanh toán theo yêu cầu chúng ta sự phồn vinh của tự do và an ninh công lý.
Chúng ta cũng đến nơi thiêng liêng này để nhắc nước Mỹ là tình hình giờ đây đã quá bức bách. Bây giờ không phải lúc đắm mình trong xa hoa của sự xoa dịu hay tìm bình an trong khói thuốc ả phù dung. Đây là lúc để thực hiện lời hứa dân chủ. Đây là lúc để trỗi dậy từ thung lũng hoang tàn tối tăm của lòng kỳ thị để tiến tới con đường chan hòa ánh sáng của công bằng chủng tộc. Đây là lúc để vực đất nước chúng ta từ vũng lầy của bất công chủng tộc lên bàn thạch vững chãi của tình huynh đệ. Đây là lúc biến sự công bằng thành hiện thực cho tất cả con dân của Thiên Chúa.
Ngoảnh mặt làm ngơ trước tình thế cấp bách này sẽ là tai họa cho đất nước. Mùa hè ngột ngạt lửa bất mãn này của người da đen sẽ không qua đi khi mùa thu dạt dào tự do và bình đẳng còn chưa tới. Năm 1963 này không là năm kết thúc mà chỉ là năm bắt đầu. Và kẻ nào có ảo tưởng rằng cơn giận dữ của người da đen xả ra xong là hết và nước Mỹ sẽ bình thường trở lại sẽ phải tỉnh ngộ. Nước Mỹ còn chưa được thảnh thơi hay yên bình chừng nào người da đen còn chưa có quyền công dân. Cơn lốc của những cuộc nổi dậy sẽ còn tiếp tục làm lung lay nền tảng đất nước này cho đến khi nào bình minh tươi sáng của công lý ló dạng.
Nhưng có những điều mà tôi phải nói với các bạn, trước khi chúng ta đặt chân lên bậc cửa ấm áp dẫn vào biệt thự công lý: Trên hành trình đòi lại ngôi vị chính đáng của mình, chúng ta đừng để mắc tội làm điều sai quấy. Xin đừng uống cho đã cơn khát tự do bằng thứ nước hận thù và cay đắng. Anh em hãy luôn đấu tranh bằng tầm cao phẩm giá và kỷ luật. Đừng bao giờ cho phép những cuộc xuống đường đầy tính xây dựng biến thành bạo lực. Luôn luôn như thế, hãy vùng dậy ở tầm cao biết vượt qua bạo lực bằng sức mạnh của tâm hồn.
Đừng để cho ngọn lửa đấu tranh bất diệt của cộng đồng người da đen biến thành sự ngờ vực đối với toàn thể người da trắng, vì nhiều anh em da trắng của chúng ta, bằng chứng là họ đang có mặt tại đây, đã nhận ra rằng số phận của họ cũng gắn liền với số phận của chúng ta. Và đã nhận ra rằng tự do của họ cũng không thể tách tách rời tự do của chúng ta.
Chúng ta không thể xuống đường một mình.
Và khi xuống đường, chúng ta thề rằng chúng ta sẽ phải luôn đi tới.
Chúng ta không thể hồi lui.
Người ta sẽ hỏi những người đòi quyền bình đẳng “Khi nào các bạn mới thỏa mãn?” Chúng ta không bao giờ thỏa mãn khi nào người da đen vẫn còn là nạn nhân của những nỗi kinh hoàng không thể nói bằng lời đối với sự bạo tàn của chính sách. Chúng ta không bao giờ thỏa mãn khi nào tấm thân mệt mỏi đường xa còn chưa được nghỉ ngơi trong những nhà khách trên xa lộ hay trong những khách sạn tại những thành phố lớn. *Chúng ta không thể thỏa mãn khi nào những khu biệt cư da đen vẫn đang lớn dần. Chúng ta không bao giờ thỏa mãn khi nào con em chúng ta còn bị tước đi cá tính và bị cướp đi nhân phẩm của chúng bởi những tấm biển “Dành riêng cho người da trắng”*[1] Chúng ta không bao giờ thỏa mãn khi một người da đen nào đó ở Mississippi chưa được quyền đi bầu hay một người da đen nào đó ở New York vẫn còn tin rằng người da đen là không có quyền đi bầu. Không, không, chúng ta không thỏa mãn, chúng ta sẽ chưa thể thỏa mãn khi nào “công lý chưa đổ xuống như nước và sự công bằng chưa đổ xuống như dòng thác”.
Tôi không quên rằng trong các bạn có người đến đây từ gian nan và đau khổ. Có người vừa thoát chốn cửa hẹp lao tù. Có người đến đây sau những cuộc đấu tranh – cuộc đấu tranh tìm tự do với tấm thân mang đầy thương tích từ những cơn bão khủng bố và những cơn lốc tàn bạo của chính sách. Các bạn là những cựu binh của những khổ đau do con người tạo ra. Hãy mãi tin rằng những đau khổ không mong muốn đó chính là cứu chuộc. Hãy trở về Mississippi, hãy trở về Alabama, hãy trở về South Carolina, hãy trở về Georgia, hãy trở về Louisiana, hãy trở về những khu nhà ổ chuột, hãy trở về những khu biệt cư tồi tàn ở phố phường phương bắc, để biết rằng bằng cách nào đó chúng ta có thể và sẽ thay đổi chúng.
Hỡi các bằng hữu của tôi, tôi muốn nói với các bạn rằng, đừng vội đắm mình trong thung lũng tuyệt vọng.
Và ngay cả khi phải đối đầu với vô vàn khó khăn hôm nay và ngày mai, tôi vẫn ấp ủ một giấc mơ. Ấy là một giấc mơ bắt nguồn từ giấc mơ nước Mỹ.
Tôi có một giấc mơ, rồi sẽ có một ngày khi đất nước này trỗi dậy để sống theo ý nghĩa thật của niềm xác tín của chính mình: "Chúng ta tin rằng chân lý này là đầy trọn, là mọi người sinh ra đều bình đẳng".
Tôi có một giấc mơ, rồi sẽ có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con cái nô lệ và con cái chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên chiếc bàn của tình huynh đệ.
Tôi có một giấc mơ, rồi sẽ có một ngày ngay chính Mississippi, tiểu bang đang bị thiêu đốt vì hơi nóng của bất công và áp bức, sẽ chuyển mình để trở thành ốc đảo của tự do và công bằng.
Tôi có một giấc mơ, rồi sẽ có một ngày bốn đứa con nhỏ của tôi sẽ được sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bằng màu da, mà bằng chính nhân cách của chúng.
Hôm nay tôi có một giấc mơ!
Tôi có một giấc mơ rằng một ngày kia, tại tiểu bang Alabama, nơi có những con người kỳ thị chủng tộc hà khắc, với vị Thống Đốc hay nói lời can thiệp và phủ quyết luật nhà nước – rồi một ngày sẽ trở thành một Alabama khác, nơi trẻ em trai gái da đen sẽ có thể nắm tay trẻ em trai gái da trắng trong tình anh em ruột thịt.
Hôm nay tôi có một giấc mơ!
Tôi có một giấc mơ, rồi sẽ có một ngày mọi thung lũng sẽ được nâng cao, mọi đồi núi sẽ bị hạ thấp, chỗ lồi lõm sẽ được san bằng, chỗ quanh co sẽ thành ngay thẳng; “và sự vinh hiển của Thiên Chúa sẽ hiển lộ để mọi người trần cùng nhau chiêm ngưỡng”.
Đó là hy vọng của chúng ta. Đó là niềm tin mà tôi sẽ mang theo về phương Nam.
Với lòng tin này, chúng ta sẽ có thể biến ngọn núi khổ đau thành thạch bàn hy vọng. Với lòng tin này, chúng ta sẽ có thể biến những âm thanh chát chúa của mối bất hòa đất nước chúng ta thành một bản giao hưởng du dương tình huynh đệ. Với lòng tin này, chúng ta sẽ cùng làm việc với nhau, cùng cầu nguyện với nhau, cùng đấu tranh với nhau, cùng ở tù với nhau, cùng đấu tranh đòi tự do với nhau, cùng biết chắc chắn rằng một ngày kia chúng ta sẽ được tự do.
Đó sẽ là một ngày – khi mọi người con của Chúa sẽ cùng cất lời ca, rằng:
Ôi! Đất nước ta ơi, vì người, vùng đất của tự do thân thương, vì người mà tôi hát.
Người là vùng đất nơi cha ông tôi đã nằm xuống, là vùng đất kiêu hãnh của những người truyền giáo,
Từ mỗi sườn núi, nguyện cho sự tự do lên tiếng!
Để nước Mỹ trở thành một đất nước vĩ đại, điều này phải trở thành sự thật.
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những đỉnh đồi kỳ vĩ của New Hampshire.
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những rặng núi uy nghi của New York.
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ các đỉnh núi Allegheny của Pennsylvania.
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ đỉnh Rockies tuyết trắng của Colorado.
Nguyện tiếng chuông tự do vang lên từ những đồi dốc hùng vĩ của California.
Nhưng không chỉ thế:
Nguyện cho tiếng chuông tự do vang lên từ Núi Đá Georgia.
Nguyện cho tiếng chuông tự do vang lên từ vùng Núi Lookout của Tennessee.
Nguyện cho tiếng chuông tự do vang lên từ mọi vùng đồi núi Mississippi.
Từ mọi sườn núi, nguyện cho tiếng chuông tự do vang lên.
Và khi chúng vang lên, khi chúng ta để tự do vang lên, khi chúng ta để chúng vang lên từ mọi ngôi làng, từ mọi thôn xóm, từ mọi tiểu bang và mọi thành phố, chúng ta có thể làm ngày ấy đến nhanh hơn, và mọi con dân Thiên Chúa, người da đen và người da trắng, người Do Thái và người ngoại đạo, người Tin Lành và người Công giáo, sẽ có thể nắm tay nhau mà cùng hát những lời ca này:
Cuối cùng đã có tự do! Cuối cùng đã có tự do!
Tạ ơn Thiên Chúa Toàn năng, cuối cùng chúng ta đã được tự do

Tìm kiếm Tùy Chỉnh